1. DVD là gì?
2. Tính năng DVD-Video là gì?
3. Các tính năng chuẩn?
4. Một vài tính năng phụ?
5. Chất lượng của DVD-Video như thế nào?
6. Khuyết điểm của DVD là gì?
7. Mã vùng, mã quốc gia, khóa vùng trên đĩa DVD là gì?
8. Đĩa DVD có được cài đặt chống sao chép không và như thế nào?
9. Những vượt trội về chất lượng của DVD so với SVCD, VCD và CD?
10. DVD-Video có phải là một tiêu chuẩn rộng khắp? Nó có thể hoạt động với hệ NTSC, PAL & SECAM?
11. Thế nào là DVD - Audio hay Music DVD, so với DVD Video thông thường khác nhau thế nào?
12. Có thể thu chương trình TV lên đĩa DVD như thu băng VHS được không?
13. Điều gì xảy ra khi tôi cào xước đĩa?
14. Thế nào về hoạt ảnh trên DVD? Nó không phải là được nén kém quá chứ?
15. Tại sao với một vài phim trên DVD cho hình ảnh có vẻ gầy quá?
16. Có phải tất cả các phim DVD sử dụng Dolby Digital (AC-3)? Chúng đều có kênh 5.1?
17. DVD có dễ hư hỏng như đĩa laser không?
1. DVD là gì?
DVD là thế hệ mới của công nghệ đĩa mềm lưu trữ quang học. Về cơ bản, DVD là CD lớn hơn & nhanh hơn, có thể lưu phim ảnh như video, tốt hơn Audio CD, cả hình ảnh và dữ liệu máy tính. DVD nhắm tới mục đích hoàn thiện giải trí tại nhà, máy tính và thông tin thương mại với dạng kỹ thuật số. Nó thay thế đĩa laser, băng video, băng video-game & thậm chí thay thế cả Audio CD & CD-ROM. DVD được sự ủng hộ rộng rải của hầu hết tất cả các công ty điện tử, công ty máy tính, công ty điện ảnh & âm nhạc. Với sự ủng hộ chưa từng thấy này, DVD trở thành sản phẩm điện tử tiêu dùng thành công nhất sau 3 năm đưa vào thị trường. Trong năm 2003, sau 6 năm có mặt, đã có hơn 250 triệu thiết bị DVD trên thế giới, tính cả đầu máy DVD, DVD PCS & bàn giao tiếp DVD game mà hơn một nửa là đầu máy VCR với công dụng gây dựng DVD trở thành tiêu chuẩn mới cho nghề xuất bản băng đĩa.
Điều quan trọng là hiểu rõ sự khác biệt giữa dạng thức vật lý (như là DVD-ROM & DVD-R) và dạng thức ứng dụng (như là DVD-Video & DVD-Audio). DVD-ROM là dạng thức cơ bản để lưu dữ liệu. DVD-Video (thường gọi đơn giản là DVD) xác định rõ chương trình video như thế nào như là phim ảnh được lưu trên đĩa & chạy trên đầu máy DVD-Video hay máy tính có sử dụng DVD. Sự khác biệt tương tự đối với CD-ROM & Audio CD. DVD-ROM bao gồm các biến thể dữ liệu: DVD-R/RW, DVD-RAM & DVD+R/RW. Các dạng thức ứng dụng bao gồm: DVD-Video, DVD-Video Recording (DVD-VR), DVD+RW Video Recording (DVD+VR), DVD-Audio Recording (DVD-AR), DVD Stream Recording (DVD-SR), DVD-Audio (DVD-A), and Super Audio CD (SACD). Cũng có các dạng thức ứng dụng đặc biệt cho bàn giao tiếp game như là Sony PlayStation 2 and Microsoft Xbox.
Lên trên
2. Tính năng DVD-Video là gì?
• Video kỹ thuật số chất lượng cao với hơn 2 giờ (2 mặt đôi, đĩa 2 lớp đôi có thể giữ khoảng 8 tiếng cho video chất lượng cao hay 30 giờ cho video chất lượng VHS).
• Hỗ trợ cho phim màn ảnh rộng theo tiêu chuẩn hay TV màn ảnh rộng (tỷ lệ cạnh 4:3 & 16:9)
• Hơn 8 rãnh ghi âm kỹ thuật số (cho nhiều ngôn ngữ, dẫn giải, vv…), mỗi rãnh với 8 kênh.
• Hơn 32 rãnh phụ đề/karaoke.
• Video tự động liên kết nhánh (cho nhiều line hoặc nhiều loại trên một đĩa)
• Hơn 9 góc camera (có thể chọn lựa nhiều điểm nhìn khác nhau trong khi thu)
• Danh mục trên màn hình và tính năng tương tác đơn giản (cho game, chương trình thi đố, vv…)
• Text nhận dạng đa ngôn ngữ cho tên đầu đề, tên đĩa, tên bài hát, phân vai, ban nhóm, vv…
• ‘Tua đi tua lại’ khẩn cấp & nhanh chóng (không bị ngạnh & hư đĩa)
• Tìm khẩn cấp cho đầu đề, chương, bài nhạc & thời gian.
• Bền (không hao mòn khi sử dụng, chỉ hao mòn vật lý)
• Không bị ảnh hưởng từ trường. Có khả năng chịu nhiệt.
• Kích thước nhỏ gọn (dễ cầm, cất giữ & gửi đi; đầu máy có thể xách tay; việc sao chép rẻ hơn băng & đĩa lazer)
Lên trên
3. Các tính năng chuẩn?
Hầu hết các đầu đĩa có tiêu chuẩn cài đặt các tính năng:
• Lựa chọn ngôn ngữ (lưa chọn tự động của phim video, đề mục audio, phụ đề & danh mục)
• Thu hiệu ứng đặc biệt: tạm dừng, nhảy bước, nhanh, chậm & quét hình.
• Khóa tầng (cho việc từ chối thu đĩa với thiết bị không thích hợp)
• Lập chương trình (phát lại các mục đã lựa chọn theo mong muốn)
• Chạy ngẫu nhiên & lặp lại
• Đầu ra của âm thanh kỹ thuật số (máy âm thanh 2 kênh biến điện mã xung PCM & âm thanh kỹ thuật số chất lượng cao Dolby Digital)
• Nhận dạng & đầu ra của âm thanh kỹ thật số vòm DTS
• Thu phát CD audio
Lên trên
4. Một vài tính năng phụ?
Vài đầu đĩa bao gồm các tính năng phụ trội:
• Cấu thành đầu ra video (component YUV hay RGB) cho chất lượng hình ảnh cao hơn.
• Cấu thành đầu ra quét lũy tiến (YUV hay RGB) cho chất lượng hình ảnh analog cao nhất.
• Đầu ra video kỹ thuật số (SDI, 1394, hay DVI/HDMI) cho hình ảnh kỹ thuật số hoàn hảo.
• Đầu ra analog 6 kênh từ bộ giải mã âm thanh nội tại.
• Thu phát của VCD hay Super VCD.
• Thu phát của CD MP3
• Thu phát của Picture CD and Photo CD
• Đảo khung bước đơn
• Chạy ngược (tốc độ bình thường)
• Đầu ra sóng vô tuyến RF (dành cho TV không có đầu vào video trực tiếp)
• Hiển thị đa ngôn ngữ
• Sức chứa đa đĩa
• Chế độ phóng đại kỹ thuật số (mở rộng hình ảnh 2x hay 4x). Đây là tính năng của đầu đĩa, không phải là tính năng của DVD.
Lên trên
5. Chất lượng của DVD-Video như thế nào?
DVD có khả năng đưa ra video có chất lượng tốt như thu ở phòng thu & tốt hơn CD Audio, videotape, đĩa laser. Tuy nhiên, chất lượng của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố sản xuất. Những kinh nghiệm nén & cải thiện công nghệ đã làm tăng chất lượng & giảm chi phí sản xuất của DVD & phần mềm DVD trở nên phổ biến ở khắp nơi, kể cả những đĩa chất lượng kém. Một số ít các đĩa DVD cực rẻ dùng MPEG-1 mã hóa (chẳng hơn gì VHS) thay vì dùng MPEG-2 chất lượngcao.DVD thường được mã hóa từ băng gốc kỹ thuật số đến định dạng MPEG-2. Quá trình mã hóa sử dụng “nén chịu thiệt” để loại bỏ các thông tin dư thừa (đồng nhất các dữ liệu tương đối giống nhau) & thông tin không đọc được bằng mắt người. Băng đã sao chép, đặc biệt khi nó phức hợp & thay đổi nhanh chóng, thỉnh thoảng có thể chứa những lỗi có thể nhìn thấy, phụ thuộc vào chất lượng gia công & số lượng nén. Tốc độ dữ liệu video trung bình trải từ 3.5 đến 6 Mbps (triệu bit/giây). Tốc độ dữ liệu cao hơn có thể thu được chất lượng cao hơn, hầu hết không phân biệt được bản gốc & bản sao với tốc độ trên 6 Mbps. Với những cải tiến công nghệ nén MPEG, chất lượng tốt hơn sẽ đạt được ở tốc độ chậm.
Video từ DVD thỉnh thoảng thấy những lỗi như nhòe màu, mờ, nhiều chấm nhỏ, mất chi tiết & thậm chí những hiệu ứng như là bề mặt “động” sau phần tĩnh của phim. Quan trọng là hiểu rằng thuật ngữ “động” nói đến những thứ mà không được cho là trong phim. Lỗi đôi khi do mã hóa MPEG kém chất lượng, nhưng lỗi thường do điều chỉnh TV sai, dây cáp không tốt, nhiễu điện, giảm ồn tùy tiện, tăng hình ảnh không thích hợp, chuyển từ film sang video chất lượng kém, lỗi đầu đọc,vv…Một vài DVD thử nghiệm ban đầu không được tốt, nhưng đó đơn giản là sự chỉ ra DVD có thể tệ như thế nào nếu quy trình không hợp thức & sao chép không đúng. Những thử nghiệm trong tương lai có thể được chỉnh lại với “tính chất gian lận” kể từ khi hầu hết người bán không có khả năng điều chỉnh hợp thức TV.Hầu hết các TV có bộ chỉnh sắc nét quá cao cho độ rõ của DVD. Điều này phóng đại video cao tần & gây ra sự xuyên tạc, chỉ như bộ điều chỉnh tông cao quá cao trên máy stereo gây ra âm thanh chói tai. Để chất lượng tốt nhất, điều chỉnh độ nét thấp thôi. Độ sáng cũng không nên cài quá cao.
Chất lượng âm thanh của DVD rất tốt. DVD còn có option của PCM (pulse code modulation) âm thanh kỹ thuật số cùng một size nhưng cao hơn âm thanh CD.
Âm thanh của các bộ phim được lưu trữ riêng biệt, âm thanh nổi multi- channel sử dụng Dolby Digital hoặc DTS audio nén, giống như dạng âm thanh nổi digital sử dụng trong nhà hát. Cũng như hình ảnh, chất lượng âm thanh phụ thuộc vào cách xử lý và mã hóa như thế nào. Mặc dù bị nén nhưng chất lượng của Dolby Digital và DTS có thể tốt hơn CD.
Lên trên
6. Khuyết điểm của DVD là gì?
• Một số đĩa không thể mở ở một số máy.
• Đầu DVD đắt hơn VRCs.
• DVD có bản bảo vệ bên trong và cửa đóng từng vùng (mã vùng).
• DVD không có đầy đủ chức năng HDTV.
• Một số đầu DVD và ổ đĩa không thể đọc CD-Rs.
• Một số đầu DVD và ổ đĩa không thể đọc DVDs chép lại.
• Hầu hết các đầu máy DVD không thể đọc đĩa DVD-RAM.
Lên trên
7. Mã vùng, mã quốc gia, khóa vùng trên đĩa DVD là gì?
Những nhà sản xuất phim muốn quản lý phim của mình ở những nước khác vì các rạp chiếu phim không giới thiệu phim trong cùng một thời gian. Vì vậy các hãng phim bán bản quyền phát hành phim cho những nhà phát hành ngoài nước và muốn bảo đảm thị trường có chọn lọc. Chính vì thế họ yêu cầu trên đĩa DVD phải có mã (code) để chống lại việc giả mạo. Mỗi máy được gắn code của nơi bán. Điều này có nghĩa là đĩa mua ở nước này không thể mở trên máy mua ở nước khác. Mã vùng hoàn toàn không bắt buộc đối với các nhà sản xuất đĩa. Đĩa không có khóa vùng sẽ mở được trên bất kì máy nào. Đó không phải là hệ thống mã hóa, nó chỉ là một byte thông tin trên đĩa được máy kiểm tra. Mã vùng là phấn cố định trên giữa, nó không “bị khóa” sau một khoảng thời gian. Mã vùng không có trên DVD-Audio, DVD-ROM, hay DVD chép lại. 7 vùng được xác định và được đánh số. Máy và đĩa thường được xác định bằng số vùng. Nếu 1 đĩa được mở trên nhiều vùng thì có nhiều số trên toàn cầu chồng lên nhau.
1: U.S., Canada, U.S.
2: Japan, châu Âu, Nam Phi, và Trung Đông (kể cả Ai Cập)
3: Đông Nam Á và Đông Á (kể cả Hong Kong)
4: Úc, New Zealand, Đảo Thái Bình Dương, Trung Mỹ, Mexico, Nam Mỹ và Caribbian
5: Đông Âu (Liên Xô cũ), Tiểu lục địa Ấn Độ, châu Phi, Bắc Triều Tiên và Mongolia
6: Trung Quốc
7: Dành riêng
8: Vùng quốc tế đặt biệt (máy bay, tàu thủy ...)
Không có đĩa region zero hay máy region zero. Nhưng có đĩa all-region và máy all-region. Một số máy có thể bị thay đổi để mở những đĩa không có mã vùng. Bảo hành thường bị bỏ trống nhưng điều này không trái luật ở hầu hết các nước. Nhiều đại lý bán lẻ, đặc biệt là ở Nam Phi bán những máy đã được thay đổi để có multiple region, hay trong một số trường hợp họ cung cấp bản hướng dẫn để đi vào vùng “bí mật” thay đổi các chức năng đã có trong máy. Về mã vùng, còn có những đĩa khác nhau cho TV hệ PAL, và NTSC.
Lên trên
8. Đĩa DVD có được cài đặt chống sao chép không và như thế nào?
Một số đĩa DVD được chống sao chép (copy protection). CPSA là tên của toàn bộ hệ thống bảo vệ thiết bị DVD gia đình, phát triển bởi tập đoàn Copy Protection Technical Working (CPTWG) và 4C (Intel, IBM, Toshiba). Dưới đây là một số dạng chống sao chép của DVD:
Analog CPS (Macrovision)
Trong mỗi máy, băng video copy bị ngăn chặn bởi Macrovision 7.0 hay những mạch tương tự. Macrovision có thể xuất hiện như những đường viền màu, méo mó, hình trắng đen, hay những vòng sáng tối. Macrovision là vấn đề của hầu hết những TV kết hợp VCR và một số thiết bị high-end như dòng nhân đôi(line doublers) hay máy chiếu video.
Giới hạn chung của hệ thống ngăn chặn taping là APS (Analog Protection System) hay copyguard. Card video computer hay s-video (Y/C) output phải sử dụng APS. Macrovision thay đổi cấu trúc của video và s-video bằng 2 cách: công nghệ Colorstripe và công nghệ AGC. Macrovision không có ở những máy cũ, nhưng hiện nay đã được trang bị trên phần output(chỉ có AGC).
Trên các đĩa có “trigger bits” nói cho đầu máy biết có hay không có Macrovision AGC với Colorstripe 2-line hay 4-line không bắt buộc. Nhà sản xuất đĩa quyết định số lượng bản chống sao chép có thể và trả tiền bản quyền Macrovision.
Những thiết bị đắt tiền có thể đánh bại Macrovision như Video Clarifier, Image Stabilizer, Color Corrector, và CopyMaster. Một số máy DVD có thể bị thay đổi để tắt Macrovision output. Time-base corrector (TBCs) chuyên nghiệp có thể phục hồi dòng 21 để loại bỏ Macrovision. APS chỉ có tác dụng với video, không có tác dụng với audio.
CGMS
Trên mỗi đĩa có chứa thông tin ghi rõ nội dung có thể copy hay không. Đây là hệ thống quản lý phiên bản copy (SCMS) thiết kế để chống lại các bản copy và bản copy tiếp theo. Thông tin CGMS được ghi ở tín hiệu video phát đi. Để CGMS làm việc, thiết bị sao chép phải nhận ra và lưu ý thông tin CGMS. Analog chuẩn (CGMS-A) mã hóa dữ liệu trên NTSC dòng 21 hay dòng 20.CGMS-A được nhận dạng bởi hầu hết các digital camcorder và một số card ghi hình của computer. TBCs phục hồi dòng 21 và 20 sẽ loại bỏ CGMS-A từ analog signal. Digital chuẩn (CGMS-D) có thêm DTCP và HDMI cho kết nối digital như IEEE 1394/FireWire.
Content Scrambling System (CSS)
CSS là sự phối hợp của dữ liệu mã hóa và thẩm định quyền để chống lại các file video copy trực tiếp trên đĩa DVD-Video. Mỗi người đăng kí CSS sẽ được cung cấp một khóa trên mỗi đĩa CSS-encrypted. Thuật giải mã CSS hoán đổi khóa với ổ đĩa để tìm ra khóa mật mã, khóa này được sử dụng sau đó làm rối sự hoán đổi giữa disc key và title key cần thiết cho việc giải mã dữ liệu trên đĩa. DVD có mạch CSS giải mã dữ liệu trước khi được m73, ổ cứng decoder DVD của máy tính và phần mềm cần phải có module giải mã CSS. Tất cả ổ đĩa DVD-ROM có firmware bên ngoài để hoán đổi authentication và khóa giải mã với module CSS trên máy tính. CSS được quản lý bởi DVD Copy Control Association (DVD CCA). Cuối năm 97 bằng CSS được chấp nhận để mã hóa phần mềm.
Content Protection for Prerecorded Media (CPPM)
CPPM chỉ sử dụng cho DVD-Audio, được xem là sự cải tiến của CSS. Khóa được giữ trong vùng lead-in, nhưng không giống CSS, CPPM không có title key. Mỗi volume có dạng album 56-bit, tương tự disc key của CSS. Mỗi đĩa có media key block chứa trong file của đĩa. Dữ liệu media key block được sử dụng trong suốt quá trình xáx nhận để cho ra khóa giải mã. Media key block có thể được cập nhật để hủy bỏ việc sử dụng khóa của máy. Nếu khóa thiết bị bị hủy,bước xử lý tiếp theo của media key block không có hiệu lực. Một đĩa có thể chứa cả CSS và CPPM nếu đó là đĩa hybrid DVD-Video/DVD-Audio.
Content Protection for Recordable Media (CPRM)
CPRM là máy nối máy thu vào một phương tiện truyền thông. Nó hỗ trợ cho máy thu DVD, nhưng không nhiều. Mỗi khoảng trống của DVD thu lại có ID media 64-bit được khắc axit trên BCA. Khi chương trình bảo vệ được chép lên đĩa, nó có thể được mã hóa với thiết bị viết mật mã C2 56-bit (Cryptomeria). Trong khi đọc lại, ID được đọc từ BCA để tìm ra khóa giải mã nội dung trên đĩa. Nếu nội dung trên đĩa được copy từ media khác, ID sẽ bị sai và dữ liệu không được giải mã.
Lên trên
9. Những vượt trội về chất lượng của DVD so với SVCD, VCD và CD?
Vượt trội chính yếu của DVD là chất lượng video với độ phân giải cao với dạng nén MPEG 2 so với VCD là MPEG1 , chất lượng âm thanh nổi surround với ít nhất 6 kênh trở lên so với 2 kênh stereo thường của SVCD, VCD và CD. Nếu so với chất lượng hình ảnh VHS thì khoảng cách lại càng lớn hơn.
| DVD | SVCD | VCD |
Độ phân giải NTSC | 720x480 | 480x480 | 352x240 |
Độ phân giải PAL | 720x576 | 480x576 | 352x288 |
Dạng nén | MPEG-2 | MPEG-2 | MPEG-1 |
Kênh âm thanh | 6 kênh âm thanh nổi | 2 kênh stereo | 2 kênh stereo |
Hầu hết các đầu DVD trên thị trường đều chơi được các đĩa DVD, SVCD, VCD, CD và một số chơi cả đĩa âm thanh MP3. Ngược lại đầu đọc CD hay VCD lại không thể chơi đĩa DVD
Lên trên
10. DVD-Video có phải là một tiêu chuẩn rộng khắp? Nó có thể hoạt động với hệ NTSC, PAL & SECAM?
Hình ảnh Video được lưu trữ trên đĩa DVD theo chuẩn nén MPEG2 so với VCD là MPEG1. Hình ảnh được định dạng cho một của hai hệ thống TV không tương thích lẫn nhau: 525/60 (NTSC) hay 625/50 (PAL/SECAM). Vì vậy, có 2 dạng DVD: "NTSC DVD" & "PAL DVD". Một vài máy đĩa chỉ chạy đĩa NTSC, các máy khác chạy đĩa PAL & NTSC. Các đĩa cũng có thể được mã hóa theo các khu vực khác nhau trên thế giới.
Khi chuyển film sang đĩa DVD, người ta thường sử dụng tốc độ 24 hình/giây, khi bộ phận mã hóa MPEG2 sẽ nhắc lại một số frame theo tỷ lệ 2-3 cho hệ 60Hz NTSC hay 2-2 với tăng tốc 4% cho 50 Hz PAL/SECAM. Vì độ phân giải hình ảnh PAL 720x576 cao hơn so với NTSC 720x480 nên độ lớn file hình ảnh trên PAL DVD cũng lớn hơn cỡ 15% so với NTSC DVD
Hầu hết các đầu đĩa DVD được bán trên các vùng PAL chạy cả hai dạng đĩa. Các đầu đĩa đa-tiêu chuẩn này chuyển một phần NTSC sang tín hiệu 60-Hz PAL (4.43 NTSC). Đầu đĩa sử dụng sóng phụ PAL 4.43-MHz màu mã hóa định dạng nhưng giữ tốc độ quét 525/60 NTSC. Hầu hết các TV PAL hiện đại có thể vận dụng tín hiệu “PAL giả”. Một ít đầu đĩa PAL đa tiêu chuẩn xuất đúng 3.58 NTSC từ đĩa NTSC. Một vài đầu đĩa có bộ chuyển để chọn lựa đầu ra 60-Hz PAL hay NTSC thật.
Có một vài đầu đĩa PAL chuyển đổi tiêu chuẩn mà nó chuyển từ một đĩa NTSC sang một đầu ra PAL tiêu chuẩn cho những TV PAL trước đây. Một bộ chuyển tiêu chuẩn hợp thức đòi hỏi phần cứng mắc tiền để điều khiển việc chia tỷ lệ, chuyển đổi thời gian & phân tích đối 2ượng chuyển động. Vì chất lượng chuyển đổi trong đầu đĩa DVD là kém, việc sử dụng đầu ra 60-Hz PAL (4.43 NTSC) với một TV tương thích cung cấp hình ảnh tốt hơn việc chuyển đổi từ 3.58 NTSC sang PAL. Âm thanh không bị ảnh hưởng bởi việc chuyển đổi này. Các công cụ phần mềm cuối cùng như là Adobe After Effects hay Canopus ProCoder làm khá tốt việc chuyển hệ giữa PAL & NTSC với chi phí thấp, nhưng chúng chỉ thích hợp cho môi trường sản xuất (chuyển đổi hệ video trước khi nó được mã hóa & ghi đĩa DVD).
Có 3 sự khác biệt giữa các đĩa dành cho việc phát lại trên hệ thống TV khác nhau: kích thước hình ảnh (720x480 NTSC đối với 720x576 PAL), tốc độ khung hiển thị (29.97hình/giây NTSC đối với 25 hình/giây PAL), và lựa chọn âm thanh nổi Dolby Digital.
Tất cả đầu đĩa PAL DVD có thể chạy âm thanh Dolby Digital, nhưng không phải tất cả đầu đĩa NTSC đều chơi được âm thanh MPEG. PAL & SECAM chia sẻ dạng thức quét chung, vì vậy, các đĩa này gống nhau cho cả hai hệ thống. Chì có một điểm khác biệt duy nhất là các đầu đĩa SECAM xuất tín hiệu màu trong dạng thức được yêu cầu bởi TV SECAM. Lưu ý rằng các TV hiện đại trong hầu hết các vùng SECAM cũng có thể đọc được tín hiệu PAL, vì thế bạn chỉ cần sử dụng một máy đĩa chỉ có đầu ra PAL. Chì có trường hợp mà bạn cần một đầu đĩa với đầu ra SECAM là dành cho TV riêng cho SECAM (và bạn có thể sẽ cần một kết nối SECAM).
Hiện nay có 3 dạng đầu đĩa DVD nếu bạn tính máy vi tính. Hầu hết các phần cứng & phần mềm máy tính có thể chạy được cả hai video NTSC & PAL, cả âm thanh Dolby Digital & MPEG. Một vài máy tính có thể hiển thị video đã được chuyển đổi lên màn hình máy tính, những máy khác có thể xuất ra ngoài như là tín hiệu video cho TV.
Đĩa NTSC với âm thanh Dolby Digital chiếm 95% hệ thống DVD trên thế giới còn đĩa PAL chơi rất ít trên các đầu đĩa bên ngoài vùng PAL.
Lên trên
11. Thế nào là DVD - Audio hay Music DVD, so với DVD Video thông thường khác nhau thế nào?
DVD giới thiệu vào năm 1996 mà không có dạng thức DVD-Audio nào mặc dù chất lượng âm thanh của DVD-Video vượt trội hơn hẳn CD. Đến cuối năm 2001 đã có khoảng 200 chương trình DVD-Audio. DVD-Audio là 1 dạng riêng biệt của DVD-Video. Đĩa DVD-Audio được thiết kế để có thể mở được trên các máy DVD-Video nhưng có thể nó không chạy được trên tất cả mọi đầu máy vì DVD-Audio có thêm một số dạng thức và tính năng mới được lưu trữ ở vùng “DVD-Audio” trên đĩa (trong folder AUDIO_TS) mà máy DVD-Video không quan tâm đến. Vì vậy một đầu đĩa DVD-Audio mới là cần thiết hay một đầu máy chung có thể mở cả đĩa DVD-Video và DVD-Audio. Đầu đĩa chung còn được gọi là VCAPs (video-capable audio player).
Tại sao người ta cần DVD-Audio trong khi DVD Video thông thường đã có thể cho bạn chất lượng hình ảnh và âm thanh cao như nói trên ? Câu trả lời rất đơn giản là chất lượng âm thanh của các đĩa DVD-Audio cao hơn hẳn chất lượng âm thanh trên DVD Video thông thường. Dưới đây là bảng so sánh tính năng của đĩa DVD Audio với DVD Video:
Tính năng | DVD-Audio | DVD-Video | Chú thích |
Cách lưu trữ các kênh âm thanh số PCM | Từng kênh PCM riêng biệt | Mã hóa 6 kênh PCM vào 2 kênh | DVD Audio cho chất lượng âm thanh cao hơn |
Tốc độ truyền dữ liệu âm thanh số LPCM | 9.6Mb/s | 6.144Mb/s | DVD Audio cho chất lượng âm thanh cao hơn |
Công nghệ nén dữ liệu audio MLP (Meridian Lossless Packing) không ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh | Có | Không | Cho chất lượng âm thanh cao với thời gian chơi lâu hơn: 135 phút với 6 kênh âm thanh 96-kHz/24-bit hay 140 phút với 2 kênh âm thanh 192-kHz/24-bit. |
Có thể phát bằng đầu nghe audio | Có | Không | DVD Audio có thể sử dụng với những máy nghe nhạc lưu động |
Mã hóa âm thanh nổi có ảnh hưởng tới chất lượng âm thanh như Dolby Digital hay DTS | Có | Có | Đĩa DVD Audio có thể chơi trên các đầu máy DVD Video thông thường. Nhưng muốn chất lượng âm thanh tốt hơn thì phải có đầu chuyên đọc DVD Audio |
Chống copy | Tốt, sử dụng công nghệ CPPM (Content Protection for Prerecorded Media) | Không tốt, sử dụng CSS (Content Scrambling System) |
|
Các đầu đĩa DVD-Audio và đầu đĩa chung hoạt động cùng với một máy thu có sẵn. Chúng xuất ra PCM và Dolby Digital và một số máy có có hỗ trợ tùy chọn dạng thức DTS và DSD. Tuy nhiên hầu hết các ampli (audio receivers) hiện nay không thể giải mã hoàn toàn đa kênh PCM-Audio hoặc nếu có thì chúng cũng không thể chuyển toàn bộ dữ liệu âm thanh số qua kết nối kỹ thuật số thông thường. Đầu đọc DVD-Audio với bộ chuyển đổi âm thanh số sang analoge chỉ có thể móc nối với ampli 2 kênh hay 6 kênh dạng analoge, nhưng chất lượng sẽ mất nếu ampli lại chuyển trở lại dạng kỹ thuật số để xử lý. Chỉ có một số ampli đời mới hơn với các kết nối kỹ thuật số đã được cải thiện như là IEEE 1394 (FireWire) mới có thể tiếp nnận toàn diện âm thanh số từ đầu đĩa DVD-Audio.
Lên trên
12. Có thể thu chương trình TV lên đĩa DVD như thu băng VHS được không?
Bộ thu DVD-Video đầu tiên xuất hiện tại Nhật Bản vào cuối năm 1999 & các nơi khác trên thế giới vào cuối năm 2000. Những máy thời buổi đầu thì rất đắt: 2,500-4,000 USD. Hiện nay giá rẻ tương đương như đầu băng VCR. Bộ thu DVD được mắc thêm vào bộ thu nhận truyền hình vệ tinh, cáp & các thiết bị điện tử cao cấp khác.
Một bộ thu DVD hoạt động như là một VCR – nó có một bộ chỉnh & đầu vào A/V, và nó có thể được lên chương trình để thu các show. Một điểm quan trọng là bạn không bao giờ phải “quay tiến” hay “quay lùi”. Việc thu trên đĩa được thực hiện ngay khi nó có thể sử dụng được & thường ngay từ menu trên màn hình. Nhiều máy thu DVD gồm có một hướng dẫn chương trình điện tử (EPG) cho bạn danh sách chương trình TV trên màn hình mà từ đó bạn có thể chọn lấy các chương trình để thu (không cần thiết phải lưu vào ngày, thời điểm, kênh & dò bằng tay, v.v)
Lưu ý rằng đầu thu DVD Video không thể sao chép hầu hết các đĩa phim DVD đã cài bảo vệ.
Lên trên
13. Điều gì xảy ra khi tôi cào xước đĩa?
Các vết trầy xước có thể gây ra các lỗi dữ liệu nhỏ mà nó có thể được chỉnh sửa dễ dàng. Dữ liệu được lưu trữ trên các DVD mà có sử dụng kỹ thuật chỉnh lỗi đủ mạnh để có thể phủ các vết trầy xước lớn mà không làm mất dữ liệu. Một sự thiếu nhận thức chung rằng một vết xước sẽ tệ hơn trên đĩa DVD hơn là trên đĩa CD vì mật độ lưu trữ cao hơn và vì video được nén nặng hơn. Mật độ dữ liệu DVD thì gấp 4 lần CD-ROM về mặt cơ lý, vì vậy thật sự rằng một vết xước sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến dữ liệu. Nhưng việc chỉnh lỗi của DVD thì tốt hơn ít nhất là gấp 10 lần so với việc chỉnh lỗi của CD-ROM & làm tăng mật độ dữ liệu nhiều hơn. Quan trọng nữa là việc nén MPEG-2 and Dolby Digital một phần dựa trên việc chuyển dời hay giảm bớt thông tin không thể nhận thấy. Các vết trầy xước chính có thể gây ra các lỗi không thể sửa được là lỗi I/O trên máy vi tính hay dẫn đến việc chạy không đều nhất thời trên hình ảnh DVD-Video. Nghịch lý là các vết trầy xước nhỏ nhất lại gây ra các lỗi tệ hại nhất (vì sự định hướng & độ khúc xạ riêng biệt của vết xước nhỏ).
Cho rằng các đĩa laser, nhạc CD & CD-ROM cũng bị các vết xước như thế nhưng nhiều cửa hàng băng đĩa vẫn cho thuê chúng. Hầu hết các báo cáo về khả năng cho thuê đĩa là vẫn tốt nhưng dù vậy, nếu bạn có vấn đề với việc xem một đĩa thuê thì hãy kiểm tra lại các vết xước của nó.
Lên trên
14. Thế nào về hoạt ảnh trên DVD? Nó không phải là được nén kém quá chứ?
Vài người phản ảnh rằng, sự hoạt ảnh, đặc biệt là kỹ thuật hoạt ảnh kéo như là hoạt hình, không nén tốt với MPEG-2 hay thậm chí bản cuối còn lớn hơn bản nguyên thủy. Những người khác phản ánh rằng hoạt ảnh thì đơn giản nên nó nén tốt hơn. Không có điều nào đúng cả.
Giả sử rằng, sự căng thẳng giữa các khung hình ảnh được tạo ra do sự khác biệt trong việc kéo hay trong việc chuẩn trực gây ra vấn đề. Một chuyên gia hoạt hình ở Disney đã chỉ ra rằng nó không xảy ra với các kỹ thuật hoạt ảnh hiện đại. và thậm chí nếu nó xảy ra thì tính năng đánh giá chuyển động của MPEG-2 có thể đền bù về điều đó.
MPEG-2 làm ngắt/dừng hình ảnh vào trong các khối & chuyển chúng vào trong thông tin tần số mà nó có thể có vấn đề với các sắc cạnh chung trong việc hoạt ảnh. Việc mất thông tin tần số cao có thể xuất hiện tiếng chuông hay các vết mờ trên các cạnh (được gọi là hiệu ứng Gibb). Tuy nhiên, tại các tốc độ dữ liệu thường được dùng cho DVD, vấn đề này không thường xuyên xảy ra.
Lên trên
15. Tại sao với một vài phim trên DVD cho hình ảnh có vẻ gầy quá?
Lúc đó bạn đang xem một bộ phim với định hình dành riêng cho TV màn ảnh rộng (wide screen). Bạn cần vào menu cài đặt của đầu đĩa & biết rõ rằng mình có một TV chuẩn 4:3, không phải TV màn ảnh rộng 16:9. Sau đó nó sẽ tự động chuyển kích thước hình ảnh và bạn có thể xem phim với tỷ lệ hình bình thường.
Trên hầu hết các đầu đĩa, bạn phải dừng đĩa trước khi bạn đổi hệ số hình ảnh.
Lên trên
16. Có phải tất cả các phim DVD sử dụng Dolby Digital (AC-3)? Chúng đều có kênh 5.1?
Hầu hết các đĩa DVD-Video chứa rãnh âm thanh Dolby Digital. Tuy nhiên, một vài đĩa, đặc biệt là DVD audio, có rãnh ghi PCM. Nó có thể nhưng hiếm có loại đĩa 625/50 (PAL) để chỉ chứa MPEG audio. Một số đĩa có DTS audio và chứa thêm rãnh ghi Dolby Digital audio (trong một số trường hợp hiếm thì chúng có cả rãnh PCM audio).
Đừng cho rằng rãnh Dolby Digital đảm bảo các kênh 5.1. Một rãnh âm thanh Dolby Digital có thể là mono, mono đôi, stereo, Dolby Surround stereo, v.v. Ví dụ: đĩa phim Blazing Saddles & Caddyshack có rãnh ghi chỉ dùng 1 kênh âm thanh. Trên vỏ DVD có những chữ nhỏ hay biểu tượng nhỏ phía dưới để chỉ ra cấu hình của các kênh. Trong một vài trường hợp, có nhiều hơn một phiên bản của rãnh âm thanh Dolby Digital: một rãnh kênh 5.1 & một rãnh pha trộn đặc biệt cho stereo Dolby Surround. Một cách hoàn chỉnh cho đầu đĩa DVD để chỉ ra chế độ hoạt động rãnh âm thanh Dolby Digital trong khi tín hiệu nhận của bạn chỉ ra Dolby Surround. Điều đó có nghĩa là đĩa chứa được 2 kênh, tín hiệu Dolby Surround được mã hó trong dạng thức Dolby Digital.
Lên trên
17. DVD có dễ hư hỏng như đĩa laser không?
Đĩa laser dễ bị hỏng lớp tráng nhôm do sự oxy hóa hay các thay đổi hóa học khác. Điều này là kết quả từ việc dùng kim loại không nguyên chất cho việc phản chiếu lớp phủ được tạo ra trong quá trình sao chép, nghiêm trọng hơn đĩa laser có thể bị biến dạng cơ học do uốn cong, vênh hay do nhiệt (kích thước lớn của đĩa làm cho chúng mềm hơn, vì vậy các chuyển dịch theo bờ giữa các lớp có thể phá hủy niêm phong, được gọi là việc phân lớp. Việc làm hư hỏng lớp dữ liệu có thể bị gây ra do các chất hóa học trong lớp keo hay hơi ẩm thấm thấu qua chất nền nhựa.
Giống như các đĩa laser, DVD được làm từ 2 đĩa dán dính với nhau, nhưng DVD thường cứng hơn vì nó nhỏ hơn & sử dụng các loại keo mới hơn. DVD được định hình từ polycarbonate mà hấp thu độ ẩm kém hơn khoảng 10 lần so với hygroscopic acrylic (PMMA) thường được sử dụng cho đĩa laser.
DVD có thể có vấn đề phân lớp, một phần do đầu đĩa giữ quá chặt. Việc phân lớp tự nó ó thể gây ra vấn đề (bởi vì lớp dữ liệu không còn ở khoảng cách đúng trên bề mặt nữa) và cũng có thể bị oxi hóa.
Xa hơn, DVD bị một vài vấn đề. Đã có những báo cáo rằng một số đĩa rất tệ do bị tách lớp, keo không tốt, phản ứng hóa học & hay sự oxy hóa của lớp phản chiếu. Cũng đã có một số báo cáo về tình trạng mờ hay màu trắng đục trong DVD mà có thể bị gây ra do sao chép không đúng cách. Một ví dụ rằng khi mà nhựa được nấu chảy làm nguội quá nhanh hoặc không đủ áp lực để phủ hoàn toàn tất cả các góc trong khuôn. Vết mờ rất nhỏ không ảnh hưởng đến việc chạy đĩa, không giống như bị hỏng. Nếu bạn có thể nhìn thấy vài điểm bằng mắt thường của bạn, có thể đấy không phải là do sự oxi hóa hay các vết hỏng khác.
Nếu đĩa tệ quá thì phải chắc chắn rằng nó không dơ, không bị xước hay bị biến dạng. Thử lau sạch nó & thử chạy trên một đầu đĩa khác. Nếu đĩa vẫn bị vấn đề tương tự thì có thể nó đã bị hỏng & hãy yêu cầu nhà cung cấp thay một đĩa khác tốt hơn.